Thứ Ba, tháng 9 22, 2026

Danh nhân huyện Hiệp Hòa cũ qua các triều đại

 Về đỗ đạt khoa bảng thời xưa, phủ Bắc Hà có 4 huyện thì huyện Hiệp Hòa đứng thứ hai. Trong “Lịch chiều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có chép: “Về khoa mục thì huyện Kim Hoa nhiều hơn rồi đến huyện Hiệp Hòa, huyện Thiên Phúc và huyện Việt Yên. Huyện Kim Hoa 17 người, huyện Hiệp Hòa 10 người, huyện Tiên Phúc 8 người, huyện Việt Yên có 6 người”. Nếu kể cả một người ở Ngọ Xá, một người ở Đoan Bái, một người ở Trung Định và một người đỗ ở thời Nguyễn mà Phan Huy Chú không thống kê thì qua 11 khoa thi Hiệp Hòa có 13 người đỗ tiến sỹ. Thi đỗ cử nhân, tú tài, hiện chưa có tài liệu đầy đủ nhưng chắc chắn có nhiều.

Về thể thức thi tuy có sự thay đổi nhưng nhìn chung là theo quá trình: thi Hương ở các trấn để tuyển chọn cống sinh (Hương Cống), đỗ thi Hương được lên kinh đô thi Hội và thi Đình. Thi Hội lấy tiến sĩ (dân gian gọi là ông Nghè), thi Đình để xếp bậc tiến sĩ: đỗ thủ khoa là Trạng Nguyên, rồi đến Bảng nhỡn, Thám hoa. Đỗ tiến sĩ được vua ban mũ áo, cân đai và được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu, Hà Nội.

+ Năm Giáp tý 1384 nhà Trần tổ chức khoa thi Thái học sinh tại Phật Tích (Tiên Du), ông Đoàn Xuân Lôi là người đầu tiên của Hiệp Hòa đỗ Trạng nguyên. Ông người làng Trâu Lỗ (còn gọi là làng Sổ hay Ba Lỗ), xã Mai Đình, Hiệp Hòa. Ông làm trợ giáo Quốc tử giám thời Trần Thuận Tông (1388-1398), cực lực vạch tội Hồ Quý Ly, khinh thường bàn bạc sách thánh hiền, vì thế phải đày đi cận châu, sau được phục chức làm đến Hoàng môn thị lang kiêm Thông phán Ái châu, rồi mất tại quan. Tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ phú “Diệp mã nhi” (con ngựa lá) bằng chữ Hán có ý đả kích Hồ Quý Ly.

+ Lê Như Thông, người xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa (xưa là xã Phúc Linh), thi đỗ Đồng Tiến sỹ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1484)

+ Khoa thi năm Mậu Dần 1518 dưới triều vua Lê Chiêu Tông: Ngọ Doãn Thọ người xã Ngọ Xá, tổng Ngọ Xá, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.

+ Khoa thi năm Bính Tuất 1526 thời vua Lê Cung Hoàng: Khổng Tư Trực, người xã Đoan Bái, tổng Đông Lỗ, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.

+ Khoa thi năm Kỷ Sửu 1529 thời vua Mạc Đăng Dung:

Nguyễn Hoàng (trong Văn Miếu ở Hà Nội ghi là Nguyễn Mao) người xã Đức Thắng, tổng Đức Thắng, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

Nguyễn Doãn Địch, sinh 1490 người xã Hoàng Vân, tổng Hoàng Vân, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

+ Khoa thi năm Mậu Tuất 1538 dưới triều Mạc Đăng Doanh:

Hoàng Sầm, sinh năm 1512 tại xã Thù Sơn, tổng Quế Trạo, Hiệp Hòa đỗ Thám hoa làm đến thượng thư, tước Hoàng Phúc Bá, là con rể Nguyễn Doãn Dịch.

Ngô Trang, người xã Ninh Định, tổng Gia Định, Hiệp Hòa đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.

+ Khoa thi năm Đinh Mùi 1547 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Thời Lượng người xã Gia Định, tổng Gia Định, Hiệp Hòa đỗ Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

+ Nguyễn Phượng Sồ: người xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, đỗ Đệ tam đồng tiến sỹ xuất thân khoa Bính Thìn, niên hiệu Quang Bảo thứ hai (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Làm quan đến chức Phụng thiên phủ doãn.

+ Khoa thi năm Kỷ Mão 1559 thời vua Mạc Phúc Nguyên: Nguyễn Kính, người xã Quế Trạo, tổng Quế Trạo, Hiệp Hòa, sinh 1522, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm đến Hộ bộ thượng thư, tước Hương sơn hầu, đã từng đi sứ.

Đi sứ là việc hết sức quan trọng, người đi sứ phải là những đại thần lỗi lạc, toàn diện, nhất là văn học, chính trị. Từ năm 1428 – 1788 thuộc thời Lê và Mạc, Hà Bắc có 107 vị đi sứ, trong đó tỉnh Bắc Giang có 5 thì huyện Hiệp Hòa có 2 người. Thời gian đi sứ khoảng 1 năm. Đường đi dài trên 2400 km, vượt sông núi, băng rừng, chịu đựng nắng mưa gió rét, thời tiết khắc nghiệt lam sơn chướng khí, thủy thổ không hợp, thú dữ, trộm cướp, phương tiện thô sơ, tai nạn nguy hiểm luôn xảy ra. Có 7 vị đi sứ mất ở dọc đường, một vị mất ở Yên Kinh (Bắc Kinh), một vị mất ở nhà.

+ Tạ Thuần sinh 1538, người làng Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, năm 52 tuổi thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ Sửu 1589 đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan nhà Mạc đến chức Giám sát, sau theo nhà Lê làm đến chức Thừa chính sứ.

+ Khoa thi năm Giáp Tuất 1574 thời vua Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Như Tiếp người Phúc Mỹ, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.

+ Khoa thi năm Nhâm Thìn 1592 thời Mạc Mậu Hợp: Nguyễn Hữu Đức người xã Vân Cẩm, tổng Đông Lỗ, Hiệp Hòa sinh năm 1569 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân.

+ Nguyễn Nhân Trừng, người xã Châu Minh, Hiệp Hòa, sinh 1587. Năm 37 tuổi dự Hội khóa Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) đời vua Lê Thần Tông đã trúng cách, sau vào thi đỗ Đồng tiến sỹ xuất thân. Theo Liệt tuyện đăng khảo: ông cùng với Nguyễn Trật bị nghi ngờ vì cố tình “dính lứu trong việc thi cử không rõ ràng” cho nên không được ban thứ bậc. Sau làm quan tới chức Đô cấp sự trung, tước Nam.  

+ Khoa thi năm Tân Sửu 1721 thời vua Lê Dụ Tông: Ngô Dụng người xã Vân Trùy, tổng Hoàng Vân, Hiệp Hòa sinh năm 1684 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, làm đến Bộ tả thị lang.

+ Hoàng Đình Tá, người xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, đỗ Đồng tạo sĩ trúng hạng Khoa Bính thìn Vĩnh hựu thứ hai 1726 đời vua Lê Ý Tông (Võ Tiến sỹ)

+ Khoa thi năm Tân Sửu 1901 thời vua Thành Thái triều Nguyễn: Nguyễn Đình Tuân người làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình sinh năm 1867 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, đỗ đầu trong 9 vị tiến sĩ khoa này. Ông nổi tiếng thần đồng từ nhỏ. Ông đã từng giữ các chức: Tri huyện Việt Yên – Bắc Giang, Giáo thụ tỉnh Yên Bái, Đốc học tỉnh Ninh Bình, Đốc học Trường Quy Thức – Hà Nội, Đốc học Hà Đông, Án sát tỉnh Cao Bằng, Án sát tỉnh Bắc Ninh, Án sát tỉnh Thái Nguyên, Tuần phủ Thái Nguyên. Ông là người khai lập xã Tân Cương thuộc tỉnh Thái Nguyên và là vị tổ nghề đối với cây chè Tân Cương nổi tiếng.

Tài liệu tham khảo

1. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa. Ban thường vụ huyện ủy xuất bản năm 1992, khổ 13 x 19 cm, 168 trang.

2. Các vị Tiến sỹ huyện Hiệp Hòa từ thời phong kiến đến nay. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hiệp Hòa. Nhà xuất bản Lao động, 2022.

Bùi Thế Tâm biện soạn lần đầu 7/1/2009 đăng trên hiephoa.net, bổ sung ngày 22/9/2026 và đăng trên hiephoanet.com

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét